Hơn 10 cảnh sát bị thương khi chữa cháy công ty hóa chất

03:00:00 |
Đến rạng sáng 17/4, lửa vẫn bao trùm công ty hóa chất ở Khu công nghiệp Lê Minh Xuân (TP HCM). Đã có ít nhất 10 cảnh sát phải cấp cứu vì bỏng, ngạt…



Khoảng 20h40 ngày 16/4, phía trước công ty Tân Hùng Thái, chuyên sản xuất các loại hóa chất, trong khu công nghiệp Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh, TP HCM) bất ngờ bốc lửa sau đó phát ra những tiếng nổ liên tiếp.




Khu vực bị cháy có một container hàng và cả trăm thùng hóa chất nên lửa bén nhanh, bốc cao hàng chục mét. Lửa cũng lan vào khu để xe của các công ty bên cạnh khiến công nhân phải tháo chạy.




Hàng chục xe cứu hoả được huy động đến hiện trường. Hóa chất đang cháy chứa nhiều axit, bốc mùi nồng nặc nên việc tiếp cận hiện trường gặp nhiều khó khăn.




Sau những tiếng nổ lớn, loại hóa chất màu trắng bắn xa hàng trăm mét. Sức ép của nó làm hàng loạt cửa kính, bóng đèn của các công ty xung quanh vỡ nát.




Chủ container cho biết nó chứa hàng trăm bồn hóa chất, mới nhập vào công ty một ngày trước. Hàng vừa được bốc xuống vài giờ thì phát cháy.




Mùi hoá chất đậm đặc gây choáng, ngạt thở nên những cảnh sát cứu hỏa vào sâu hiện trường phải dùng mặt nạ dưỡng khí, người đứng từ xa cũng phải đeo khẩu trang chống độc.




Nỗ lực dập lửa trong điều kiện khắc nghiệt đã khiến nhiều chiến sĩ bị bỏng, ngạt… 




Lực lượng y tế huyện Bình Chánh sơ cứu cho các cảnh sát PCCC trước khi đưa đi cấp cứu.




Đến 1h ngày 17/4, bác sĩ Lê Văn Thạnh, Khoa ngoại bệnh viện Bình Chánh cho biết, ngoài một số chiến sĩ đang sơ cứu tại hiện trường đã có 10 cảnh sát bị bỏng độ 1-2 phải nhập viện.




Thiếu tướng Trần Triều Dương, Giám đốc Sở Cảnh sát PCCC TP HCM trực tiếp chỉ đạo công tác cứu hỏa.


Đội cứu hộ cứu nạn TP HCM được chi viện nhằm tìm kiếm người bị nạn có thể mắc kẹt bên trong biển lửa.




Đám cháy lan sang một số công ty giày da, chế biến bình ắc quy... lân cận nên nhân viên phải di tản các bình khí gas, tránh nổ.



Nhà xe một công ty sát khu vực hoả hoạn bị cháy rụi. Đến 2h, lửa vẫn hừng hực bốc cao trong công ty hóa chất, xe cứu hỏa liên tục ra vào...
An Nhơn
Vnexpress.net


Read more…

Intel Products Việt Nam tái sử dụng 100% nước thải công nghiệp

00:00:00 |
Hệ thống Tái sử dụng nước thải công nghiệp tại Intel Products Việt Nam giúp tiết kiệm được trung bình 200m3 nước mỗi ngày. Đây là hệ thống tái sử dụng nước thải công nghiệp lớn nhất trong hệ thống các Nhà máy Lắp ráp và kiểm định Chip của Intel (ATM) và là nhà máy thứ 3 trong hệ thống ATM của Intel không có nước thải công nghiệp.

Nhà máy Intel Product Việt nam là nhà máy thứ 3 không có nước thải công nghiệp trong số các nhà máy lắp ráp kiểm định của Intel- Ảnh: TL

Ngày 12 /3/2014, Công ty TNHH Intel Products Việt Nam chính thức khánh thành Hệ thống Tái sử dụng nước cho phép tái sử dụng 100% lượng nước thải công nghiệp từ nhà máy; Hệ thống này giúp nhà máy kiệm được gần 200m3 nước sạch mỗi ngày. Với hệ thống tái sử dụng nước thải công nghiệp lớn nhất, Nhà máy Intel Products Việt Nam là nhà máy thứ 3 không có nước thải công nghiệp trong số các nhà máy lắp ráp kiểm định của Intel, sau Costa Rica và Malaysia. 

Hệ thống Tái sử dụng nước thải công nghiệp này được thiết kế với: (1) 2 thùng chứa nước giúp trữ đủ lượng nước thải; (2) Bộ điều khiển tưới cỏ thông minh giúp tối ưu hóa lượng nước tưới cỏ theo mùa. Một thiết bị đo điều kiện thời tiết để bật/ tắt hệ thống tưới tự động bao phủ diện tích cỏ là 90.000 mét vuông; (3) Ngoài ra, hệ thống còn có các thiết bị để xử lý nước thải từ nhà máy, nước từ tháp giải nhiệt và nước thải từ hệ thống thẩm thấu ngược. Hệ thống này bao gồm 386m cọc bê-tông nặng 62.000 kg; 658 vòi phun tự động, và 12.000m đường ống ngầm đi dưới toàn bộ diện tích khu vực. 

Dự án này cho phép tái sử dụng 100% lượng nước thải từ nhà máy của Intel Products Việt nam và biến nhà máy thành Nhà máy không có nước thải công nghiệp. Dự án này giúp tiết kiệm được gần 74 triệu lít nước mỗi năm, giúp giảm khoảng 40% lượng nước tiêu thụ nước của toàn nhà máy.

Phát biểu tại buổi lễ khánh thành, Bà Sherry S. Boger – Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam cho biết: “Bảo tồn năng lượng, nước, nguyên vật liệu và các nguồn tài nguyên khác là một trong những tôn chỉ hoạt động của chúng tôi. Trong năm 2013, chúng tôi đã tái chế, tái sử dụng được 92% chất thải rắn tại nhà máy. Dự án Tái sử dụng nước này là một nỗ lực của các nhân viên Intel trong việc phát triển các phương pháp nhằm cải thiện tình hình tiêu thụ nước, và các phương án tốt nhất trong quản trị nước có trách nhiệm.” 

Nhật Viên/TMT



Read more…

Lạng Sơn gắn phát triển kinh tế-xã hội với bảo vệ môi trường

00:00:00 |
Lạng Sơn là vùng biên giới, có cửa khẩu thông thương với Trung Quốc nên lợi thế về phát triển kinh tế thương mại và phát triển các mỏ khai thác khoáng sản, như than nâu ở Na Dương (Lộc Bình); than bùn (Bình Gia); phốtphorit (Hữu Lũng); bôxít (Văn Lãng, Cao Lộc); vàng (Tân Văn)…Tuy vậy, tốc độ kinh tế tăng trưởng và quá trình đô thị hóa nhanh đã kéo theo ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.

Ảnh minh họa IE

Để khắc phục tình trạng trên, cùng với việc phát triển kinh tế bền vững, công tác bảo vệ môi trường đã được cấp ủy, chính quyền Lạng Sơn quan tâm và coi đó là một trong những điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống. 

Theo báo cáo của UBND tỉnh Lạng Sơn, trong những năm gần đây công tác bảo vệ môi trường được lồng ghép vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nội dung bảo vệ môi trường luôn được quan tâm, xem xét cụ thể trong quá trình thẩm định, phê duyệt các Dự án. Năm 2013, tỉnh đã tiến hành thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của 21 dự án, trong đó có 19 dự án cải tạo, phục hồi môi trường; 106 bản cam kết bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân; cấp 44 sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của 128 đơn vị; thực hiện giám sát công tác quan trắc môi trường hàng năm thường xuyên. 

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường được tăng cường và đa dạng hóa bằng nhiều hình thức. Theo đó, các tổ chức đoàn thể đã và đang tích cực tích cực tham gia công tác này, với 100% các hội viên của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên trên địa bàn tỉnh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Trong đó điển hình là Hội Phụ nữ đi đầu với các phong trào “5 không, 3 sạch”, “phụ nữ tham gia giữ gìn vệ sinh đường làng ngõ xóm”, “mô hình phụ nữ trồng cây lấy lá sử dụng thay thế túi ni lông”...

Trong năm 2013, tỉnh đã tổ chức các hoạt động, mít tinh, phát tờ rơi, trồng cây xanh và các hoạt động hưởng ứng các sự kiện môi trường như: Chương trình Giờ Trái đất, Ngày nước thế giới 22/3, Ngày môi trường thế giới 5/6 và Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, với nhiều hình thức phong phú và đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đồng thời, tỉnh còn hỗ trợ kinh phí xây dựng hầm biogas cho các hộ gia đình, duy trì mô hình tự quản bảo vệ môi trường ở khu dân cư. UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn, theo Quyết định số 64/2003 của Thủ tướng Chính phủ. 

Nhờ đó đến nay Lạng Sơn có 7/9 đơn vị được chứng nhận đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để, 2 cơ sở (nền kho thuốc bảo vệ thực vật tại huyện Hữu Lũng và điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Hoàng Đồng, TP. Lạng Sơn) đang nỗ lực khắc phục, xử lý triệt để ô nhiễm môi trường để sớm ra khỏi Danh mục cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng. Về hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải, hiện 100% thị trấn, thị tứ, các phường của tỉnh có hợp đồng với các công ty tư nhân, hợp tác xã để thu gom rác sinh hoạt. Bên cạnh đó, tỉnh đã cơ bản xóa bỏ xong các lò gạch thủ công, không còn khói lò gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng hoa màu của nhân dân. 

Tuy nhiên công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn còn một số tồn tại do hầu hết các bãi chôn lấp rác thải chưa đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, việc đầu tư các hạng mục xử lý chất thải tại bãi rác chưa được đồng bộ. Trung bình mỗi ngày toàn tỉnh phát sinh hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt, trong đó tỷ lệ thu gom đạt khoảng 50%, nên đã ảnh hưởng tới môi trường khu vực xung quanh, gây bức xúc cho người dân. Trong khi đó, năng lực của cán bộ làm công tác môi trường trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, chưa đồng đều, nhất là cán bộ cấp cơ sở, số lượng chưa đáp ứng được yêu cầu công việc… 

Từ thực tế của địa phương, UBND tỉnh đã đề ra các giải pháp bảo vệ môi trường trong thời gian tới, trong đó tiếp tục triển khai thực hiện các Dự án Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Lạng Sơn thời kỳ 2011-2020; Điều tra đánh giá hiện trạng mức độ ô nhiễm môi tr­ường các cửa khẩu biên giới. Đồng thời thực hiện các giải pháp tăng cường phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường; kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa chất dùng trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; các loại phế liệu, máy móc, thiết bị đã qua sử dụng. 

UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo các cơ quan chức năng phải thực hiện tốt công tác tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các cở sở sản xuất kinh doanh và dự án cải tạo, phục hồi môi trường sau hoạt động khai thác khoáng sản. Xây dựng kế hoạch hoạt động khoáng sản hàng năm, đi đôi với việc tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường theo quy định, hỗ trợ xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường bức xúc ở địa phương… 

Các địa phương trong tỉnh thực hiện việc gắn tiêu chí về giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường vào các tiêu chí bình xét gia đình văn hóa, làng văn hóa. Tăng cường hoạt động công khai hóa thông tin về hiện trạng chất lượng môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng, để nhân dân hiểu rõ thực trạng và phối hợp với các cơ quan, tổ chức... trong công tác giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường.

Thanh Huyền-TTXVN


Read more…

Đắk Lắk: Cần hài hòa phát triển thủy điện với du lịch trên sông Sêrêpôk

00:00:00 |
Các công trình thuỷ điện được xây dựng trên sông Sêrêpôk đã mang lại “nguồn sáng”, phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên cũng như cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực những công trình thuỷ điện này đã trở thành một trong những nguyên nhân “bóp chết” nhiều khu du lịch ở Đắk Lắk.

Ảnh IE

Sông cạn, du lịch chết

Mới bước vào mùa khô nhưng hơn 20km của đoạn Sêrêpôk phía hạ lưu nhà máy thủy điện Sêrêpôk 4, đoạn đi qua 3 xã Krông Na, Ea Huar, Ea Wer và Vườn Quốc gia Yok Đôn của huyện Buôn Đôn đã khô kiệt. Nguyên nhân là do thủy điện Sêrêpốk 4A (công suất 64 MW do Công ty Cổ phần Thủy điện Buôn Đôn làm chủ đầu tư) sau khi hoàn thành đã lấy toàn bộ nguồn nước xả từ thủy điện Sêrêpốk 4 về kênh dẫn dòng của mình để phục vụ phát điện, trong khi lưu lượng nước xả trở lại sông quá ít. Nước sông cạn kiệt đã ảnh hưởng tiêu cực đến đến môi trường, sản xuất, sinh hoạt của các buôn đồng bào dân tộc thiểu số sống cạnh dòng Sêrêpôk cũng như hoạt động của ngành du lịch.

Ảnh hưởng nặng nề nhất là Khu du lịch thác Bảy nhánh (ở buôn N’Drêch, xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn) của Công ty Du lịch Sinh thái Bản Đôn. Nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột gần 40 km về phía Tây - Bắc, thác Bảy nhánh vốn là một thắng cảnh đẹp, một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hàng năm, khu du lịch này đón khoảng trên 15.000 du khách. Vào thời điểm này những năm trước, khách du lịch đến đây tấp nập để được đứng trên cầu treo ngắm nhìn dòng nước chảy, cưỡi voi khám phá các đảo hoang...Năm nay, mùa cao điểm du lịch đã bắt đầu nhưng cụm thác này vắng hoe do đoạn sông Sêrêpôk chảy qua đây đã cạn trơ đáy. Thác Bảy nhánh bây giờ chỉ là một bãi đá khô khốc với những rặng si cổ thụ héo quắt vì thiếu nước. Không có nước chảy qua nên nhiều sản phẩm du lịch như đi cầu treo ngắm thác, đi thuyền độc mộc, câu cá, khám phá đảo hoang...cũng "chết" theo.

Ông Nguyễn Trụ, Giám đốc Công ty Du lịch Sinh thái Bản Đôn buồn bã: Lượng khách đến với Khu du lịch thác Bảy nhánh giảm 80% so với mọi năm. Mười đoàn khách vào đây thì có đến tám đoàn quay ra. Du khách vào chơi thác nhưng sông khô kiệt nên họ cũng không có hứng thú để sử dụng các dịch vụ khác. Không có doanh thu đồng nghĩa với việc thu nhập của hơn 20 nhân viên Công ty Du lịch sinh thái Bản Đôn bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, điều mà ông Trụ lo lắng nhất là làm sao vẫn giữ được các hợp đồng và tạo niềm tin cho các du khách quốc tế, nhất là các đoàn khách từ Nga mà Công ty đã ký hợp đồng trước đó. Nếu họ hủy tour thì không biết lấy tiền đâu để đền bù hợp đồng.

Cách Khu du lịch thác Bảy nhánh không xa, Trung tâm Du lịch Buôn Đôn - một điểm du lịch hấp dẫn du khách bậc nhất ở Đắk Lắk cũng chung số phận. Hầu hết các sản phẩm du lịch của Trung tâm đều gắn với dòng Sêrêpôk hoang sơ, hùng vĩ. Sông Sêrêpôk đoạn chảy qua đây giờ nhiều chỗ cạn trơ đá, những vũng nước tù bốc mùi hôi thối, những rặng si cổ thụ tạo nên Khu du lịch Cầu treo - Bản Đôn cũng bắt đầu "chết" khát. Nước sông quá cạn khiến nhiều sản phẩm như đi thuyền độc mộc khám phá dòng sông, cưỡi voi vượt dòng Sêrêpôk...không hút khách làm Trung tâm thất thu rất lớn. “Nếu như các ngành chức năng không sớm vào cuộc tìm biện pháp để điều hòa lại nguồn nước cho sông Sêrêpôk thì chẳng bao lâu nữa sinh cảnh của Trung tâm Du lịch Buôn Đôn sẽ bị phá hủy hết. Du khách đến với Buôn Đôn sẽ một đi không trở lại”, ông Nguyễn Đức, Phụ trách Trung tâm búc xúc.

Cần phát triển hài hòa giữa thủy điện và du lịch

Hiện nay, dòng Sêrêpôk qua địa phận 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông đã có 8 nhà máy thủy điện đi vào hoạt động. Những nhà máy thuỷ điện này phân bố theo bậc thang. Khi nhà máy thuỷ điện trên xả nước và phát điện thì các thủy điện phía dưới mới có nước để phát điện và xả nước trở lại sông Sêrêpôk. Khi thành lập dự án xây dựng thuỷ điện Sêrêpôk 4A các chuyên gia, nhà quản lý, truyền thông đã cảnh báo về những tác động tiêu cực của công trình này đến việc phát triển các khu, điểm du lịch ở Buôn Đôn. Và thực tế đã chứng minh, hai khu du lịch năm trên dòng Sêrêpốk trong phạm vi tác động của nhà máy này đang “chết” dần.

Trước tình trạng trên, Công ty Du lịch sinh thái Bản Đôn đã có công văn yêu cầu Công ty Cổ phần Thủy điện Buôn Đôn - chủ đầu tư nhà máy thủy điện Sêrêpôk 4A phối hợp tìm giải pháp khắc phục đưa nước vào thác Bảy nhánh. Sau khi tiến hành khảo sát, hai bên thống nhất phương án là nổ mìn phá một ghềnh đá để đưa nước từ nhánh chính của sông Sêrêpôk vào các nhánh phụ. Tuy nhiên, phương án này vẫn chưa được các ngành hữu quan đồng ý vì nếu phá ghềnh đá sẽ làm mất đi vẻ đẹp của cụm thác nổi tiếng này.

Phát biểu trong cuộc họp báo định kỳ tháng 2 vào chiều 3/3, ông Trần Hiếu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk khẳng định: Ngành công nghiệp thủy điện  du lịch đều quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Không vì thủy điện mà bỏ du lịch hay ngược lại, mà phải để hai ngành này cùng phát triển hài hòa, cùng khai thác tốt tiềm năng của dòng Sêrêpôk đem lại nhiều lợi ích cho đồng bào các dân tộc, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động đến môi trường. Ông Trần Hiếu đã chỉ đạo các ngành liên quan sớm kiểm tra, khảo sát, có giải pháp hữu hiệu giải quyết dứt điểm việc nhà máy thủy điện Sêrêpốk 4A chuyển dòng làm đoạn sông Sêrêpôk đi qua huyện Buôn Đôn khô kiệt ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch.

Anh Dũng
tinmoitruong.vn



Read more…

Khi hiểm họa ung thư không ngừng tăng

00:00:00 |
Báo cáo về ung thư trên toàn cầu 2014 của tổ chức Y tế thế giới (WHO) tiếp tục đánh hồi chuông báo động về tốc độ tăng của con số ung thư, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.

Theo ghi nhận của WHO, mỗi năm có 14 triệu ca ung thư được phát hiện mới và 8,2 triệu người chết hằng năm vì nó. Chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm 27% tổng số ca chết vì ung thư của thế giới, còn nếu tính luôn các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp khác, con số này sẽ tăng đến 70%.

WHO dự đoán trong hai thập kỷ tới, tổng số ca ung thư bị phát hiện mỗi năm có thể lên đến 22 triệu ca.

Trong số các loại ung thư, phổ biến nhất và nghiêm trọng nhất là
 ung thư phổi. Dữ liệu năm 2012 cho thấy, số lượng chết vì ung thư phổi lên đến 1,59 triệu ca, tiếp đến là ung thư gan, dạ dày, đại trực tràng, vú và thực quản.
Ô nhiễm không khí là tác nhân gây ung thư phổ biến ở các nước đang phát triển

Trong số các nguyên nhân gây ra ung thư phổi, có thể thấy thuốc lá và ô nhiễm không khí là những yếu tố đáng lưu ý nhất, nhưng đáng lo hơn, những yếu tố này càng nghiêm trọng hơn khi nhiều quốc gia chưa có chính sách kiểm soát hiệu quả. Ví dụ ở Trung Quốc, quốc gia sản xuất 40% tổng số thuốc lá toàn cầu và thường xuyên đối mặt với hiểm họa sương khói đầy độc hại ở các thành phố lớn thì đồng thời cũng chiếm hơn 1/3 tổng số ca chết vì ung thư phổi trên toàn cầu. Đối mặt với thảm họa này, năm ngoái Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát động chiến dịch kiểm soát việc hút thuốc ở nơi công cộng với hy vọng sẽ khiến môi trường trong lành hơn.

Trong khi ung thư ngày càng diễn biến phức tạp thì một điều đáng phấn khởi là đội ngũ y khoa trên khắp thế giới cũng đang nỗ lực từng ngày để cải thiện và khám phá ra các phương thức chữa trị mới hiệu quả hơn. “Các cải thiện trong dược phẩm và y tế dù chậm nhưng chắc chắn mang lại lợi thế cho chúng ta trong cuộc chiến chống ung thư”, Bác sĩ Ang Peng Tiam, Giám đốc y khoa và là nhà tư vấn cao cấp về ung thư tại Parkway Cancer Centre (PCC) - Singapore, nói.

Ngoài các phương pháp phổ biến như phẫu thuật cắt bỏ các tế bào ung thư, xạ trị để giết các tế bào ưng thư thì hiện cũng xuất hiện phổ biến hơn các cách thức chữa bệnh mới với hiệu quả cũng rất hứa hẹn.

Ví dụ, mới đây PCC đã hợp tác với công ty Champions Oncology để áp dụng liệu phát chữa bệnh TumorGraft cho khu vực châu Á. Đây là một phương pháp chữa bệnh mới mẻ trong đó các bác sĩ sẽ chiết xuất các khối u của bệnh nhân để cấy vào cơ thể chuột. Sau đó, các con chuột này sẽ lần lượt được thử nghiệm để quyết định loại thuốc nào có hiệu quả chữa bệnh cao nhất rồi áp dụng ngược lại cho bệnh nhân.

Ngoài ra, giới y khoa cũng sử dụng kỹ thuật cấy tế bào mầm như Haematopoietic Stem Cell Transplantation (HSCT), phù hợp cho cả người lớn và trẻ em. Theo kỹ thuật này, các tế bào mầm sẽ được cấy vào tủy xương. Một khi các tế bào mầm này nhân bản, chúng sẽ phát triển vào trong các tế bào máu để từ đó giúp phục hồi cơ thể.

Nhưng vì đây là phương pháp có độ rủi ro cao nên HSCT không dành cho tất cả các trường hợp. Nó phù hợp để trị các loại ung thư nghiêm trọng cũng như trị bệnh bạch cầu, bệnh thiếu máu, rối loạn hệ thống miễn dịch và các loại bệnh trao đổi chất do di truyền.

Kể từ ca cấy phép đầu tiên vào 1957 cho đến nay, đã có hơn 1 triệu ca đã được thực hiện theo phương pháp này với tỷ lệ thành công trung bình khoảng 30 – 40% theo chia sẻ của bác sĩ Lim ZiYi, tư vấn cao cấp của PCC. Tuy vậy hiện hầu hết các ca cấy ghép theo dạng này chỉ mới diễn ra ở châu Âu và Mỹ, còn tại châu Á, gần đây PCC đã xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất khá hiện đại để có thể phục vụ tốt hơn các bệnh nhân ở khu vực này.

Theo WHO, hơn 30% các ca chết vì ung thư có thể được ngăn ngừa nếu chúng ta điều chỉnh hay tránh các tiếp xúc với nhân tố gây bệnh quan trọng. Chúng gồm: tránh thuốc lá vốn là yếu tố quan trọng nhất gây ra 22% tổng ca chết vì ung thư toàn cầu cũng như khoảng 71% ung thư phổi, hạn chế béo phì, có chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh với việc dùng nhiều trái cây và hoa quả. Chúng ta cũng nên vận động nhiều hơn, giảm sử dụng rượu bia, quan hệ tình dục an toàn để tránh nhiễm virut HPV vốn có liên quan đến ung thư cổ tử cung ở nữ giới. Còn về mặt nhà nước, một chính sách giảm ô nhiễm không khí, đặc biệt ở các đô thị lớn là điều nên được tiến hành.

Sơn Thanh- báo ĐV


Read more…

Cảnh báo tình trạng vứt xác gia cầm chết xuống kênh rạch

00:00:00 |
Trong khi cả nước quyết liệt phòng chống dịch cúm gia cầm, thì nhiều người dân ở tỉnh Hậu Giang thiếu ý thức, vô tư vứt tràn lan xác gia cầm chết xuống sông, kênh rạch, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh.


( Ảnh minh họa )

Ghi nhận tại 2 huyện Vị Thủy và Long Mỹ có ngàn hàng con gia cầm chết bị người dân vứt xuống sông. Các hộ chăn nuôi ở đây cho biết, sau khi phát hiện gia cầm chết có báo cho chính quyền địa phương nhưng không thấy cán bộ vào hướng dẫn tiêu hủy. Vì số lượng gia cầm chết quá nhiều, lúng túng trong cách xử lý, sợ lây bệnh ra tổng đàn nên họ cho vào bao ni-lông vứt xuống sông. Đây là cách làm chung của người dân tỉnh Hậu Giang mỗi khi có gia cầm chết và tình trạng này diễn ra nhiều năm qua nhưng chưa được chính quyền ở đây xử lý nghiêm. 

Theo ghi nhận của phóng viên, lượng gia cầm chết nhiều thì người dân còn cho vào bao ni-lông buộc miệng lại, còn chết rải rác một vài con thì mang vứt thẳng xuống sông, kênh rạch gây hôi thối, ruồi muỗi, ô nhiễm nguồn nước cả đoạn sông. Tình trạng thiếu ý thức này không chỉ làm mầm bệnh phát tán ra diện rộng, mà còn đe dọa đến ô nhiễm nguồn nước, môi trường sống, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. 

Điều đáng nói ở đây, mặc dù ngành Thú y tỉnh cho rằng đội ngũ nhân viên, cộng tác viên thú y, 
ban chỉ đạo phòng chống dịch phủ khắp địa bàn, nắm chắc tình hình “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, kịp thời phát hiện, xử lý nhanh, nhưng theo người chăn nuôi ở huyện Vị Thủy và Long Mỹ thì hiện nay người dân tự xoay sở, đối phó với dịch bệnh. Theo các hộ chăn nuôi cho biết, mặc dù phát hiện gia cầm chết từ sau Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, nhưng đến nay mới thấy cán bộ thú y đến kiểm tra. Sự vào cuộc chậm của ngành chức năng, sự lúng túng trong cách tiêu hủy, sự thiếu ý thức của người chăn nuôi đang là nguyên nhân lây lan dịch bệnh ở địa phương ra diện rộng. 

Vấn đề lo ngại hiện nay, Hậu Giang là vùng sông nước, có hệ thống sông ngòi chằng chịt. Do đặc thù sinh hoạt, phần lớn người dân nơi đây dùng nước sông rạch trong sinh hoạt gia đình. Trong khi đó, họ lại có thói quen vứt rác, xả chất thải, xác gia súc, gia cầm chết xuống sông. 

Theo ngành Thú y Hậu Giang, trên địa bàn đã phát hiện ổ dịch cúm A/H5N1 trên đàn gà 1.600 con tại xã Phú Tân, huyện Châu Thành. Mặc dù ổ dịch này đang nằm trong tầm kiểm soát nhưng tình trạng gia cầm chết còn xảy ra nhiều. Tình trạng gia cầm chết không được tiêu hủy đúng cách, vứt đầy sông, kênh rạch… đang là hồi chuông báo động trước nguy cơ lây lan, bùng phát dịch cúm gia cầm ở địa phương.
( TTXVN )


Read more…

92% số dân nông thôn Bình Thuận sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh

00:00:00 |
Bình Thuận là tỉnh có nguồn nước ngầm rất khan hiếm, phân bố không đồng đều và thường xuyên xảy ra hạn hán. Tình trạng thiếu nước sinh hoạt thường diễn ra, nhất là vào mùa khô. 

( Ảnh minh họa )

Những năm gần đây, nhờ mạnh dạn đầu tư vào các công trình thủy lợi và công trình cấp nước, đến nay, Bình Thuận đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho vùng nông thôn, nhất là vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đến nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cấp nước sinh hoạt, cung cấp nước hợp vệ sinh cho 92% số dân nông thôn toàn tỉnh, trong đó 45% được sử dụng nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn. Đáng chú ý là với chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, các địa phương đã xây dựng được 39 công trình hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao tại 14 xã thuần và 24 thôn xen ghép, đến nay có khoảng 92% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh. Trong đó, có 65% hộ được sử dụng và tiếp cận nguồn nước sạch từ các hệ thống nước đã được đầu tư và được hỗ trợ kinh phí lắp đặt thủy kế đến tận nhà.

Để bảo đảm nguồn nước sinh hoạt của người dân nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thường xuyên theo dõi kết quả xét nghiệm nguồn nước. Hàng tháng phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, huyện kiểm tra chất lượng nước. Đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp các hệ thống hiện có để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân trong mùa khô. Bên cạnh đó, Trung tâm còn có các chính sách hỗ trợ tạo điều kiện để bà con sử dụng nước sạch trong sinh hoạt như: các xã, thôn xen ghép đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao được hưởng chính sách hỗ trợ giá nước sinh hoạt ưu đãi, hỗ trợ kinh phí lắp đặt thủy kế tận nhà...

Tại thôn Bình An và Bình Lâm xã Hàm Chính (huyện Hàm Thuận Bắc), hơn 200 hộ dân đang rất phấn khởi khi được sử dụng nguồn nước sạch sinh hoạt được dẫn từ nhà máy nước của huyện về tận nhà. Anh Lê Văn Sô, thôn Bình An cho biết: Ngày trước, gia đình phải sử dụng nước sinh hoạt từ giếng đào công cộng. Vào mùa mưa thì dùng nước mưa, còn vào mùa khô nước ở các giếng gần như đều cạn, nên phải đi xách từng can nước hoặc mua nước với giá cao. Kể từ ngày có nước sạch từ nhà máy nước của huyện, gia đình tôi phấn khởi lắm, ăn uống, sinh hoạt 100% là nước sạch, từ giờ không lo mắc bệnh truyền nhiễm và thiếu nước nữa.

Ông Lý Hữu Phước - Giám đốc Trung tâm Nước sạch Vệ sinh môi trường nông thôn Bình Thuận cho biết: Vùng nông thôn khó khăn, đối tượng hộ nghèo, gia đình chính sách và vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được Trung tâm ưu tiên cấp nước và đầu tư hàng đầu nhằm góp phần chuyển biến đời sống người dân theo hướng văn minh, giúp người dân từ bỏ dần thói quen sinh hoạt, tập quán dùng nguồn nước sông, suối chưa hợp vệ sinh. Trước mắt trung tâm đang tập trung đầu tư vào các công trình cấp nước ở 1 xã thuần và 8 thôn xen ghép đồng bào dân tộc thiểu số còn lại để có thể nhanh chóng cung cấp nước sạch cho bà con.

Với việc đẩy mạnh xây dựng hệ thống nước sạch cho người dân vùng nông thôn, Bình Thuận phấn đấu đến cuối năm 2014, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 93,5%, trong đó 46% được sử dụngnước sạch đạt tiêu chuẩn. Và đến năm 2015, có trên 95% số dân sống ở nông thôn trên địa bàn được sử dụng nước hợp vệ sinh.
 ( TTXVN )


Read more…

Hoạt động chôn lấp chất thải rắn không ảnh hưởng đến môi trường đất

00:00:00 |
Theo Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Đồng Nai, kết quả quan trắc môi trường đất tính đến cuối năm 2013 cho thấy, chất lượng đất luôn đạt yêu cầu phù hợp với mục đích sử dụng, chưa thấy dấu hiệu suy thoái đất do tác động của công nghiệp và nông nghiệp đến môi trường đất. Tuy nhiên ở một số vị trí tiếp nhận nguồn thải của một số khu công nghiệp, và một số vị trí thuộc khu vực phụ cận bãi chôn lấp chất thải trên địa bàn tỉnh có một vài thông số kim loại nặng vượt quy chuẩn cho phép, bên cạnh đó diễn biến từng khu vực cũng còn nhiều nơi bắt đầu tiềm ẩn những dấu hiệu gây ô nhiễm .

( Ảnh minh họa )

Về khu vực đất công nghiệp, qua kết quả quan trắc cho thấy đối với vùng chịu ảnh hưởng bởi hoạt động công nghiệp cho thấy đất tại vị trí quan trắc (hầu hết được bố trí tại các vị trí tiếp nhận nước thải của các khu công nghiệp) có giá trị pH nằm trong khoảng từ rất chua đến trung tính; nhóm chỉ tiêu kim loại nặng cho thấy (Cu, Pb, Cd, As) ở hầu hết các vị trí quan trắc đều có hàm lượng rất thấp, trong ngưỡng giới hạn cho phép. Bên cạnh đó cũng phát hiện thấy vị trí có tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao tại vị trí tiếp nhận nước thải của khu công nghiệp Hố Nai (có hàm lượng Cu, Zn, ở mức cao vượt từ 1,06 đến 1,5 lần, có xu hướng giảm so với đợt I trong năm) và khu công nghiệp Biên Hòa 1 (có hàm lượng Zn; Pb ở mức cao vượt từ 3,43; 2,72 lần so với QCVN 03:2008/BTNMT quy định mức giới hạn của Cu là 100 mg/kg; Zn là 300 mg/kg; Pb là 300 mg/kg). 

Tuy nhiên, theo Trung tâm quan trắc Sở Tài nguyên môi trường, qua kết quả quan trắc ở các khu công nghiệp vẫn còn 6 nơi tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng và một số chất khác cao. Bao gồm: nơi tiếp nhận nguồn nước thải của Khu công nghiệp Hố Nai (huyện Trảng Bom); Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (TP.Biên Hòa) và 4 khu xử lý chất thải, gồm: Trảng Dài (TP.Biên Hòa), Vĩnh Tân (huyện Vĩnh Cửu), Túc Trưng (huyện Định Quán), Quang Trung (huyện Thống Nhất). Tại Khu công nghiệp Hố Nai, hàm lượng đồng, kẽm vượt quy chuẩn cho phép của Việt Nam từ 1,06 -1,5 lần. Còn tại Khu công nghiệp Biên Hòa 1, hàm lượng đồng trong đất vượt từ 2,7-3,4 lần. Trong 4 khu xử lý chất thải còn phát hiện asen, crom, đồng vượt tiêu chuẩn từ 1,1- 4,2 lần. 

Còn ở khu vực phụ cận bãi chôn lấp chất thải rắn cho thấy, đối với đất ở vùng có nguy cơ ô nhiễm bởi chất thải rắn (khu vực phụ cận) tại 9 vị trí có hàm lượng các kim loại nặng như: Pb, Zn, Cd, Cu đều có giá trị trong giới hạn cho phép của quy chuẩn Việt Nam. Tuy nhiên, một số vị trí quan trắc có hàm lượng Asen vượt quy chuẩn cho phép như: khu xử lý chất thải rắn phường Trảng Dài, khu khu xử lý chất thải rắn xã Vĩnh Tân và khu xử lý chất thải rắn xã Túc Trưng phát hiện hàm lượng As đã vượt QCVN 03:2008/BTNMT lần lượt là 1,05;4,12;1,27 lần và riêng vị trí xử lý chất thải rắn xã Quang Trung, đồng (Cu) có hàm lượng cao hơn 1,5 lần so với QCVN 03:2008/BTNMT (quy định mức giới hạn của Cu là 70 mg/kg). Đối với hai kim loại Ni, Cr tại vị trí thuộc khu vực phụ cận bãi chôn lấp xã Quang Trung có hàm lượng khá cao 135; 376 mg/kg. 

Nhìn chung hoạt động chôn lấp chất thải rắn trên địa bàn tỉnh tại hầu hết các vị trí quan trắc chưa phát hiện có ảnh hưởng đến môi trường đất đối với các khu vực xung quanh. 

Tại 27 vị trí quan trắc khu vực đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hầu hết có hàm lượng dinh dưỡng khá cao. Tuy nhiên, nhiều vị trí không có sự cân đối giữa hàm lượng lân và kali, giữa đạm và cacbon hữu cơ trong đất. Riêng nhóm đất nâu tập trung tại xã Xuân Hòa ( huyện Xuân Lộc) nghèo dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ, nitơ và phốt pho và kali đều thấp. Giá trị pHH2O, pHKCl của đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có xu hướng thấp, kết quả phân tích cho thấy hầu hết các điểm quan trắc thuộc nhóm đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đều có tính chua đến trung tính. Do đó, để khai thác sử dụng đất có hiệu quả cần phải có biện pháp bổ sung cân đối tỷ lệ chất dinh dưỡng cho đất như bón phân bổ sung hàm lượng lân, hàm lượng đạm và hàm lượng kali phù hợp với từng loại đất để khai thác có hiệu quả. Hóa chất bảo vệ thực vật đều có hàm lượng thấp đạt ngưỡng cho phép theo Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 15:2008/BTNMT). 

Riêng khu vực đất nền chất lượng môi trường đất tại hầu hết các vị trí quan trắc Vườn quốc gia Cát Tiên; Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai; Lâm trường Tân Phú và Rừng ngập mặn Long Thành đều khá giàu dinh dưỡng, hàm lượng hữu cơ, đạm, lân, kali tổng số ở mức cao đến giàu dinh dưỡng, do đó chất lượng đất ở các vị trí này phù hợp với mục đích phát triển và bảo vệ rừng. 

Kết quả quan trắc tại các vị trí thuộc khu vực đất chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động dân sinh như: Quảng trường tỉnh, Công viên thị Trấn Long Thành, Vườn cây Dầu – phường Xuân An – TX.Long Khánh và Sân golf Long Thành – Tp.Biên Hòa, hàm lượng các thông số kim loại nặng quan trắc đều ổn định qua các năm, có giá trị trong ngưỡng giới hạn cho phép đối với đất phục vụ cho mục đích dân sinh theo quy chuẩn Việt Nam (QCVN 03:2008/BTNMT).
TTXVN


Read more…

Xử lý các đối tượng hút cát sạn trái phép ảnh hưởng an toàn giao thông trên sông Trà Khúc

00:00:00 |
Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy- Công an tỉnh Quảng Ngãi đang đồng loạt ra quân truy quét, xử lý hàng chục đối tượng cùng nhiều bè, ghe thuyền chuyên hút cát, sạn và tình trạng lấn chiếm lòng sông trái phép, làm thay đổi dòng chảy sông Trà Khúc (đoạn chảy qua huyện Sơn Tịnh.


( Ảnh minh họa )

Trong những ngày đầu đợt truy quét, lực lượng chức năng đã kiểm tra bãi cát sạn thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Qua đó, bắt quả tang trên 10 bè, ghe thuyền chuyên hút, cát sạn trái phép. Đặc biệt, trong đó có nhiều người liều lĩnh hút cát sạn ngay dưới chân cầu Trường Xuân và cả gần tuyến đê Nam sông Trà Khúc, ảnh hưởng đến sự an toàn của chân cầu và chân đê. 

Nguyên nhân nhiều ghe thuyền, bè mảng khai thác cát, sạn tại đoạn sông này là do khác với mọi năm, trận lũ lớn giữa tháng 11/2013 vừa qua đã cuốn cát sạn từ thượng nguồn về với khối lượng lớn, tạo thành những bãi bồi dọc sông Trà Khúc. 

Thượng tá Nguyễn Hồng Thanh, Phó Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường thuỷ, Công an tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Thời gian qua, hoạt động khai thác, tập kết, vận chuyển cát, sỏi trái phép tại thị trấn Sơn Tịnh diễn biến phức tạp đã làm thất thoát lớn về tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, gây nguy cơ sạt lở bờ sông Trà Khúc và gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Lực lượng Cảnh sát đường thủy đã kiểm tra các điểm thu mua, tập kết cát, sạn tại khu vực thôn Liên Hiệp 1, thị trấn Sơn Tịnh phát hiện các cơ sở này vi phạm cố ý tạo chướng ngại vật gây cản trở, mất an toàn giao thông trên luồng. Có 3 chủ cơ sở bị lập biên bản là các bà Võ Thị Ngọc, Võ Thị Liên và Phùng Thị Minh Trinh, đều ở thị trấn Sơn Tịnh. Các đối tượng này đã đổ đất đá lấp sông tạo thuận tiện cho ô tô xuống tận sông lấy cát, sạn gây thay đổi dòng chảy nguy hiểm sạt lở bờ sông. 

Phòng Cảnh sát giao thông đường thuỷ đã lập biên bản, tiến hành xử lý nhiều đối tượng vi phạm khai thác trái phép cát, sạn và tạo chướng ngại vật gây cản trở, mất an toàn giao thông trên dòng chảy sông Trà Khúc.
TTXVN


Read more…

Công ty Đường Ninh Hòa cam kết khắc phục ô nhiễm môi trường

00:00:00 |
Ngày 2/1, ông Trần Công Hoán, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) cho biết: Trước những phản ánh của người dân xã Ninh Xuân về việc Công ty cổ phần Đường Ninh Hòa (đóng trên địa bàn xã Ninh Xuân) gây ô nhiễm môi trường, UBND thị xã đã yêu cầu Công ty đối thoại với người dân để giải quyết các vấn đề liên quan.


( Ảnh minh họa )

Theo đó, trong biên bản làm việc với người dân hai thôn Phước Lâm và Ngũ Mỹ, xã Ninh Xuân, doanh nghiệp đã thừa nhận gây ra tiếng ồn và bụi do tiến hành vệ sinh đường ống lò hơi turbine để đưa vào hoạt động. Công ty đang tiến hành lắp đặt thiết bị, công nghệ mới nhằm giảm thiểu tối đa tro bụi; cam kết từ ngày 8/1/2014 sẽ chấm dứt tình trạng tro bụi; đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý nước thải; triển khai sớm các giải pháp nhằm hạn chế việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường và nâng cao chất lượng nước xả ra môi trường.

UBND thị xã đã báo cáo tình trạng ô nhiễm môi trường do Công ty cổ phần Đường Ninh Hòa gây ra cho Cảnh sát môi trường tỉnh để kiểm tra, xử lý. UBND thị xã cũng yêu cầu Công ty khi có các hoạt động khác thường, phải thông báo cho chính quyền địa phương, người dân, đồng thời có chính sách hỗ trợ để người dân ổn định cuộc sống.

Nguyên Lý ( TTXVN )


Read more…

Tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường

00:00:00 |
Một trong những nhiệm vụ công tác trọng tâm trong năm 2014 được Tổng cục Môi trường xác định, đó là xây dựng và hoàn thiện thể chế chính sách nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa, đấu tranh quyết liệt với hành vi vi phạm. Trong đó đang tập trung hoàn thiện, trình Quốc hội Khóa XIII xem xét, thông qua dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) dự kiến vào Kỳ họp thứ 7 tới.

( Ảnh minh họa )

  Những bất cập trong quản lý 

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014, được tổ chức ngày 2/1, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Bùi Cách Tuyến cho rằng: Năm 2013, Tổng cục Môi trường đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; triển khai một cách thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát tinh thần chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, qua đó đã hoàn thành tốt các mục tiêu đặt ra. 

 Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, Tổng cục đã phát hiện và phối hợp giải quyết kịp thời những vướng mắc, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Qua đó kiến nghị Bộ sửa đổi, bổ sung và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, từng bước đưa công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đi vào nề nếp. Việc phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng, phức tạp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đã tạo được sự đồng thuận cao trong xử lý các cơ sở vi phạm, được dư luận và xã hội đồng tình ủng hộ. 

 Cụ thể, về thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước, Tổng cục đã hoàn thành kết luận thanh tra trách nhiệm về bảo vệ môi trường của 11 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Bao gồm Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Khánh Hòa, Tiền Giang, Bến Tre, Lạng Sơn, Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Hoàn thành kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra về bảo vệ môi trường từ năm 2010 đến năm 2012 của Bộ, đối với 6 địa phương thuộc các lưu vực sông. Nhờ đó đã phát hiện một số bất cập trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. 

 Những bất cập đó là: Vẫn còn tình trạng dự án đầu tư được các Bộ, ngành, địa phương cho phép triển khai bỏ qua quy định về đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Tình trạng dự án được đưa vào vận hành nhưng chưa được các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành các công trình biện pháp bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa được tăng cường, một số địa phương còn chưa quyết liệt, hoặc xử lý "nhẹ tay" đối với doanh nghiệp vi phạm. 

 Đặc biệt, công tác cấp giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại tại các địa phương, cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất chưa được chặt chẽ. Việc giám sát sau cấp phép cũng chưa được tiến hành thường xuyên. Do vậy nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng nhập chất thải dưới danh nghĩa nhập khẩu phế liệu, hoặc nhiều cơ sở không đủ điều kiện nhưng vẫn hoạt động đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, kéo dài như các nhà máy sản xuất thép, giấy phế liệu... 

 Đồng thời, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải công nghiệp, chất thải rắn và khai thác khoáng sản thu được rất ít, không tương ứng với tình trạng ô nhiễm hiện nay. Việc phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường của một số tỉnh chưa đúng quy định, một số địa phương còn sử dụng kinh phí không đúng nội dung chi, phân bổ thấp hơn 1% chi ngân sách như quy định. 

 * Xử phạt nhiều vi phạm vẫn lắm 

 Phát biểu tại Hội nghị tổng kết, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang nhận xét: Tuy đã có nhiều nỗ lực lập lại trật tự kỷ cương trong công tác bảo vệ môi trường, nhưng số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã phát hiện và đề nghị xử lý vẫn còn “quá nhỏ” so với thực tế. Tổng cục Môi trường nên tham mưu cho Bộ để phân định rõ chức năng, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với một số Bộ, ngành. Nhất là trên lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải; quản lý chất lượng không khí, quản lý phát thải hóa chất hay phế liệu. 

 Riêng trong năm 2014, Tổng cục phải kiên quyết đề nghị đình chỉ hoạt động đối với những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ, nếu như các cơ sở này vẫn chưa khắc phục được triệt để. “Vì chúng ta không hy sinh môi trường cho sự phát triển kinh tế bằng mọi giá như trước đây. Trong đó việc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo rà soát đưa ra khỏi quy hoạch đối với 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là một minh chứng cụ thể nhất”-Bộ trưởng nhấn mạnh. 

 Để Tổng cục Môi trường trở thành “Người gác cổng môi trường”, phải tăng cường, mở rộng sự phối hợp giữa Tổng cục với các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị-xã hội triển khai có hiệu quả các Nghị quyết liên tịch về phối hợp hành động bảo vệ môi trường đã ký kết. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, các đề tài, dự án sát với yêu cầu thực tiễn về bảo vệ môi trường. Đặc biệt là đóng góp xứng đáng vào nhiệm vụ sửa Luật Bảo vệ môi trường. Đồng thời trong năm 2014, Tổng cục cần tăng cường kiểm soát ô nhiễm tại các khu, cụm công nghiệp, làng nghề và các lưu vực sông... 

 Trong năm 2013, Tổng cục đã hoàn thành thanh tra, kiểm tra đối với 636 cơ sở thuộc khu công nghiệp, cụm công nghiệp và cơ sở hoạt động trong lĩnh vực dầu khí, cảng biển, sản xuất giấy, hóa chất, quản lý chất thải nguy hại và trên các lưu vực sông thuộc địa bàn 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đã xử lý và đề nghị xử lý đối với 335 cơ sở vi phạm, với số tiền lên đến 46.680 triệu đồng. 

Trong đó có 7 đoàn thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường theo Quyết định 64 đối với 47 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên phạm vi 19 tỉnh, thành phố và lập 33 biên bản vi phạm hành chính, chuyển cấp có thẩm quyền xử phạt 14 cơ sở với tổng số tiền 5 tỷ đồng. Hoàn thành thanh tra đối với 125 cơ sở trên địa bàn 3 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng, phát hiện nhiều vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn cho phép và quản lý không đúng quy định, dự kiến sẽ phải xử phạt với mức tiền lên đến hàng chục tỷ đồng. 

 Tuy tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở đã có chuyển biến, nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp cố tình vi phạm. Tập trung vào 5 nhóm hành vi vi phạm, như vi phạm các các thủ tục hành chính, chế độ báo cáo và thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt, cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận; nhóm hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguy hại. 

 Nhóm hành vi vi phạm khá phổ biến nữa là tự ý điều chỉnh, thay đổi thiết kế, công nghệ của công trình xử lý chất thải nhằm xả trộm chất thải không qua xử lý ra môi trường; xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho phép ra ngoài môi trường, gây ô nhiễm môi trường; kê khai thiếu hoặc trốn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại và các loại phí môi trường khác. 

 Các đoàn thanh tra của Tổng cục Môi trường cũng đã phát hiện nhiều cơ sở, khu công nghiệp, cụm công nghiệp xả hàng ngàn m3 nước thải chưa qua xử lý ra ngoài môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đó là Công ty cổ phần Nguyên phụ liệu Dệt may Bình An thuộc Tổng Công ty Việt Thắng, Công ty TNHH Sản xuất Cơ khí và Dịch vụ Đại Phúc xả thải chưa qua xử lý trực tiếp ra ngoài môi trường; Công ty Cổ phần giấy An Hòa xả 1.500m3 nước thải chưa qua xử lý ra sông Lô. 

 Những vụ vi phạm điển hình nữa là việc chôn lấp hàng trăm tấn chất thải nguy hại không đúng quy định của Công ty TNHH Nhà nước MTV xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ. Vụ Công ty TNHH NEW TOYO PULPPY tại Bình Dương xả nước thải chưa được xử lý vào cống thoát mưa của Khu công nghiệp VISP I. Ngoài ra có 4 Công ty luyện, cán thép từ thép phế liệu đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng...Do đó, cùng với việc thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, Tổng cục Môi trường sẽ thực hiện công khai thông tin các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định, nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường. 
TTXVN


Read more…

Bài viết mới